Sơ Lược Về Nguồn Gốc & Lịch Sử Phật Giáo

0


Phật giáo được phổ biến, mở rộng và được truyền bá qua nhiều nước trên thế giới; là một tôn giáo vô thần, không chủ trương hữu thần, không công nhận có đấng sáng tạo hay thượng đế quyết định số mạng con người; thay vào đó là chủ trương về lý nhân quả, mọi sự của một người là do chính người ấy làm và nhận lãnh. 


Nguồn Gốc Của Phật giáo


Phật giáo hay Đạo Phật là một tôn giáo hay nói đúng hơn là hệ thống triết học bao gồm các giáo lý, tư tưởng triết học đầy đủ về nhân sinh quan, thế giới quan cùng phương pháp tu tập dựa trên lời dạy của nhân vật lịch sử có tên là Siddhartha Gautama dịch thuần Việt là Tất-Đạt-Đa Cồ-Đàm với tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Theo các tài liệu khảo cổ học đã chứng minh, Đạo Phật ra đời khoảng thế kỷ VI-V trước công nguyên ở vương quốc Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) phía Tây Bắc Ấn do thái tử Tất-Đạt-Đa Cồ-Đàm (Siddhartha Gautama) sau nhiều năm tu hành gian khổ để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi "Làm thế nào để con người thoát khỏi khổ đau và sinh tử". Sau khi thành Phật được tôn xưng là Phật (Buddha "người giác ngộ") Thích Ca Mâu Ni (Sàkyamuni).


Người Sáng Lập Ra Đạo Phật


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Câu chuyện về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, từ một thái tử có tên là Tất-Đạt-Đa đã từ bỏ ngai vàng giàu sang để tìm đến con đường tu đạo, đã trở thành giai thoại lưu truyền muôn đời.

Phụ Thân của ngài là Tịnh Phạn, mẫu thân ngài là Ma Gia. Câu chuyện về cuôc đời của Ngài từ lúc bắt đầu như đã gánh trên mình sứ mệnh khác thường. Ngài được thụ thai một cách thần kỳ, mẫu thân ngài nằm mơ thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà rằng đứa bé sinh ra sẽ là vị vua vĩ đại hoặc là một nhà hiền triết cao quý. Ngày ngài ra đời cũng là ngày mẫu thân ngài qua đời ngay trong vườn Lâm Tỳ Ni. Ngài bước đi bảy bước lúc đản sinh và nói “ta đã đến nơi”. Vì sinh ra trong hoàng tộc, ngài có một thời niên thiếu sung túc và hoan lạc. Ngài lập gia đình với nàng Da Du Đà La và có một cậu con trai là La Hầu La. Tuy nhiên, cuộc sống hoan lạc kết thúc vào năm 29 tuổi, Ngài từ bỏ cuộc sống hiện tại và cả di sản của hoàng tộc để trở thành một người tầm đạo lang thang hành khất, đi tìm chân lý sống đích thực. 


Lịch Sử Ra Đời Của Đạo Phật


Kể từ lúc Ngài Tất-Đạt-Đa khước từ mọi hạnh phúc, quyền uy, tiện nghi vật chất để cầu đạo giải thoát. Ngài đã dâng hiến toàn bộ thời gian của mình cho công cuộc hoằng hóa độ sinh. Ngài chu du khắp đất nước Ấn Độ xưa, từ cực Bắc dưới chân núi Himalaya, đến cực Nam bên ven sông Ganges (sông Hằng).

Trong quá trình lang thang tìm giá trị đích thực của hạnh phúc, của sự giải thoát, ngài đã suy nghĩ đến giáo lý giải thoát sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, ly dục, vô ngã mà Ngài đã chứng đắc. Khi ngài cảm rõ những điều mà chúng sinh thì luôn chìm sâu vào ái dục, định kiến, chấp ngã, v.v. Ngài trăn trở làm sao để con người dễ dàng chấp nhận và cảm thấu được giáo lý ấy? Bằng trí tuệ giác ngộ sâu sắc của mình, Đức Thế Tôn thực hiện ba lần thỉnh cầu và phát khởi thiện nguyện hộ trì giáo pháp của Phạm Thiên và gióng lên tiếng trống Pháp, bắt đầu thực hiện sứ mệnh của mình. Đây cũng là lúc ngài tuyên bố với bốn phương ba cõi rằng con đường cứu khổ, con đường dẫn đến cõi bất sinh bất diệt, cõi Niết Bàn đã được khai mở “Cửa bất tử rộng mở cho những ai chịu nghe…” và bánh xe Pháp bắt đầu chuyển vận. Phật Giáo ra đời từ đây và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay.

Mặc dù đạo Phật chưa bao giờ tổ chức các phong trào truyền giáo nhưng những giáo huấn của đức Phật lại được lan truyền xa rộng, ban đầu là trên tiểu lục địa Ấn Độ và rồi dần xuyên suốt cả Châu Á. Khi đến với mỗi vùng đất mới, văn hóa mới, đạo Phật lại được thay đổi để phù hợp với tâm lý của người dân khu vực đó, nhưng hoàn toàn giữ lại bản chất, những điểm tinh túy về trí tuệ và lòng bi mẫn. Đạo Phật không có người đứng đầu như vua tôi, đại diện là những tăng ni tu sĩ, người được học và cảm thấu sâu sắc Phật Pháp, là vị lãnh tụ tinh thần cho những quý Phật tử, đạo hữu. 

Sự lan rộng của đạo Phật ở hầu hết các nơi diễn ra một cách an hòa, theo nhiều cách. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã lập ra tiền lệ về việc chia sẻ những hiểu biết sâu sắc của mình cho những người có lòng ham học hỏi, bất kể quốc gia, ngôn ngữ. Ngài hoàn toàn không kêu gọi người khác phải từ bỏ tôn giáo của mình hay cải đạo để theo đạo mới. Ngài chỉ cố gắng giúp mọi chúng sinh vượt qua những khổ đau của chính mình, thoát khỏi vô minh và hướng đến giải thoát. Có lẽ chính vì mục đích tốt đẹp đó mà đạo Phật đã ra đời và phát triển bền vững cho đến hôm nay và cả mai sau. 


Phật Giáo Tiểu Thừa & Đại Thừa


Đạo Phật có hai nhánh chính là Tiểu Thừa (Hyayana) và Đại Thừa (Mahayana).


Phái Tiểu thừa:

Phái Tiểu thừa (Hyayana) nghĩa là “con đường cứu vớt nhỏ” hoặc “cỗ xe nhỏ”, chủ trương chỉ những người xuất gia tu hành mới được cứu vớt. Phái này cho rằng những người theo Tiểu thừa phải tự giác ngộ, tự giải thoát cho bản thân mình, không thể giải thoát cho người khác. 

Phái Tiểu thừa quan niệm rằng sinh tử luân hồi và niết bàn là hai phạm trù khác biệt nhau, chỉ khi nào con người thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi thì mới lên được Niết Bàn. Niết Bàn là cõi hư vô, là nơi đã giác ngộ, ở đó không còn khổ não. Phật tổ là người đầu tiên đạt tới Niết Bàn.

Phật giáo Tiểu thừa bảo vệ sự tuân thủ nghiêm ngặt của giáo quy, bám sát các giáo điều của đạo Phật nguyên thủy. Theo các môn đồ Tiểu thừa thì phái này đại diện cho học thuyết thuần khiết và khởi thủy như những lời mà Phật đã thuyết giảng. Những quan niệm của môn phái này chủ yếu dựa vào các kinh ghi lại lời dạy của Phật tổ, còn những quy tắc kỷ luật tu hành dựa vào Luật tạng.   


Phái Đại thừa:

Phái Đại thừa (Mahayana) nghĩa là “con đường cứu vớt lớn”, “cỗ xe lớn” được gọi là tôn giáo cải cách. Giáo lý Đại thừa có nhiều cái mới so với đạo Phật nguyên thủy. Phái này cho rằng không chỉ những người xuất gia tu hành mà cả những phật tử cũng được cứu vớt.

Vì vậy, chủ trương người theo đạo Phật Đại thừa không chỉ giải thoát, giác ngộ cho bản thân mà còn có thể giúp nhiều người cùng giải thoát, giác ngộ. Đại thừa chủ trương mỗi người có thể đến Niết Bàn chỉ bằng sự cố gắng của mình, đồng thời chủ trương giải thoát đông đảo cho nhiều người.

Phái Đại thừa không chỉ thừa nhận Thích Ca là Phật mà còn thừa nhận nhiều Phật khác như Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Phật Đại Dược Sư, v.v. Ai cũng có thể trở thành Phật và thực tế đã có nhiều người thành Phật như Văn Thù Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, v.v.

Với quan niệm đó, những chùa theo Phái Đại thừa thờ nhiều tượng Phật. Bồ Tát cũng là đối tượng được thờ cúng. Bồ Tát là những người đã đạt được sự hoàn thiện bằng tu luyện, đáng được lên Niết bàn song tự nguyện ở lại trần gian để cứu độ chúng sinh. Trong các vị đó, Quan Âm Bồ Tát được kính trọng nhất.

Phật giáo Đại thừa quan niệm rằng sinh tử luân hồi và Niết Bàn không phải là hai phạm trù khác biệt, ngay trong quá trình tồn tại (quá trình sinh tử) cũng có thể đạt được Niết Bàn. Theo phái Đại thừa, Niết bàn là nơi cực lạc, là thế giới của các vị Phật, giống như Thiên đường của các tôn giáo khác.


Định Nghĩa & Giáo Lý Của Đạo Phật


Phật giáo có thể được định nghĩa và giải thích bằng những góc nhìn khác nhau như sau:

+ Phật giáo, là giáo lý của Đức Phật (người Giác Ngộ), nhằm hướng dẫn và phát triển con người bằng cách làm cho thân tâm trong sạch (thông qua con đường Đạo Đức); làm cho thân tâm bình lặng (thông qua con đường Thiền Tập), và làm khai  sáng tâm linh con người (thông qua con đường Trí Tuệ).

+ Phật giáo là một "tôn giáo" được thiết lập nên bởi Đức Phật vì phúc lợi của chúng sinh, vì hạnh phúc của chúng sinh và vì sự tiến  bộ  của thế  giới con người. Mọi người từ mọi xứ sở đều có thể áp dụng những giáo lý và hướng dẫn của đạo Phật vào trong cuộc sống của mình, tùy theo căn cơ,  khả  năng, điều kiện và ý chí tự do của mình.

+ Phật giáo là một tôn giáo chủ trương lẽ thật và sự thực hành của chính bản thân mỗi người. Chỉ có mình mới thực hành cho mình, giải quyết vấn đề tâm linh và những đau khổ của mình và chính mình giải thoát cho mình. Và sau đó, giúp đỡ người khác đi theo con đường đạo vì lòng từ bi và để tu dưỡng  thêm lòng từ bi đối với họ.

+ Phật giáo vừa là triết học vừa là thực hành. Mặc dù Phật giáo cũng thừa nhận sự hiện hữu của những chúng sinh là chư thiên (như thiên thần, trời, thánh nhân), nhưng Phật giáo không đặt vấn đề những chúng sinh siêu phàm xuất trần đó là phần quan trọng trong học thuyết tôn giáo của mình. Thay vì vậy, đạo Phật dạy con người phải tu tập những phẩm chất như luôn biết Sỉ nhục và Sợ hãi về mặt lương tâm để tránh bỏ làm những điều bất thiện. Người tránh bỏ điều bất thiện xấu ác thì người đó có được những phẩm chất của những bậc thiên thần và trời; có được lòng tin chánh tín, đạo đức, lòng học hỏi, lòng rộng lượng và trí tuệ.

Hơn nữa, Phật giáo chỉ dạy rằng một người nếu trừ bỏ được những ô nhiễm như Tham, Sân, Si thì người đó được cho là một người tốt lành và siêu việt.

Chủ thuyết của Phật Giáo là Tránh làm những điều ác, Làm  những điều thiện, Tu dưỡng Tâm trong sạch (kinh Pháp Cú); Không có thứ gì là cố định hay thường hằng, mọi sự trên thế gian đều vô thường; Mọi hành động đều tạo ra kết quả tốt hay xấu sau đó, mọi hành động mình cố ý làm (nghiệp)  đều tạo ra nghiệp quả; Thay đổi thực trạng đời mình là có thể được, tu sửa "số phận" của mình là có thể được, chuyển hóa nghiệp của mình là có thể được giải thoát khỏi khổ đau là có thể làm được bằng nỗ lực của mỗi người, hướng đến điều tốt thiện, từ bỏ dục vọng, và tu tập phần tâm cho trong sạch.

Những lời dạy của Phật đã được ghi chép và bảo tồn bởi đại đa số tu sĩ đệ tử của Người trong tàng thư "Tam Tạng Kinh" (Tipitaka), mà nghĩa đen của từ này là "Ba Rổ Kinh", bao gồm:

+ Luật Tạng (Vinaya-pitaka): Những giới luật  đối với tăng ni, và một số giới luật dành cho Phật tử tại gia.

+ Kinh Tạng (Suttanta-pitaka): Tập hợp những bài thuyết giảng của Đức Phật và những vị đại đệ tử của Phật.

+ Diệu Kinh Tạng (Abhidhamma-pitaka): Đây là phần triết lý cao học của Phật giáo.


Lợi Ích Của Việc Tu Tập Theo Phật Giáo


Mọi người đều có khả năng tự tu tập mình và giải thoát khỏi mọi sự khổ (Dukkha) của sự sống, không phân biệt  sắc tộc, quốc tịch hay nam nữ. Đạo Phật hướng dẫn những phương cách thực tiễn, rõ ràng, không phải mơ hồ (về Ngũ Giới, về Thiền tập) cho mọi người. Nếu ai cũng làm theo như Phật và hàng ngàn ngàn người đã làm theo từ thời Đức Phật, thì những điều  tốt đẹp, sự bình an và hạnh phúc sẽ có mặt. Đó là những ích lợi của việc tu tập theo đạo Phật dành cho cuộc sống này.

Phật giáo đặt nền tảng vào sự tự trải nghiệm, sự duy lý, sự thực hành, đạo đức và trí tuệ của mỗi cá nhân. Nghĩa là một người không cần thiết phải làm hài lòng hay xu nịnh thượng đế hoặc các thầy tu; không cần phải nhắm mắt làm theo những giáo điều, những tục lệ, kinh kệ hay những lễ nghi huyền hoặc vô ích. Phật giáo không  đặt vấn đề  ở chỗ đức tin và sự sùng bái. Đạo Phật là một con đường mang tính khoa học để khám phá sự sống của bản thân và thế giới.

Đạo Phật có thể được tiếp cận và thực hành bằng nhiều cách khác nhau. Phật giáo được cho là một tôn giáo. Nhưng bởi vì Phật giáo không bao gồm ý tưởng thờ phượng đấng sáng tạo, nên nhiều người nhìn thấy được đây không phải là một tôn giáo theo định nghĩa về mặt ngôn ngữ của từ này, mà chỉ là một triết học.

Như vậy, Phật giáo đề cao sự tự thân tu tập và tìm thấy sự bình an và hạnh phúc cho chính mình, hơn là dựa vào người khác. Đạo Phật là con đường thực hành để dẫn dắt đến trí tuệ nhìn thấy mọi sự sống đúng như bản chất đích thực của nó. Và từ cái nhìn thấy đó, trí tuệ đó, con người có thể giải thoát khỏi mọi khổ đau trong sự sống hàng ngày và trong tương lai. Đó là ích lợi bền lâu và đáng có nhất hơn hẳn những ích lợi về vật chất, phù du và ngắn ngủi.

Về việc tu tập bản thân, đạo Phật đưa ra những hướng dẫn để tu sửa tâm, để kiểm soát tâm, và tu dưỡng tâm (Thiền tập) để mọi người thực hành để làm cho tâm trong sạch (Thanh tịnh), tĩnh lặng (Định), và giúp nâng cao ý thức và khả năng chú tâm (Chánh niệm) của tâm, nhằm giúp tăng trưởng lòng từ bi, để chúng ta có tâm khỏe mạnh đối diện với những thăng trầm và vô thường của sự sống, quan trọng nhất để chúng ta nâng cao và tu dưỡng trí tuệ giải thoát khỏi những sự khổ (Dukkha - Lợi ích lớn nhất đối với mọi người). Đức Phật cũng đạt được những lợi ích, và cuối cùng là trí tuệ giác ngộ như vậy, bằng con đường  như vậy, và Người đã đi truyền dạy lại con đường đó cho nhân loại, và con đường đó được gọi là “Đạo Phật”, tức là con đường của Phật.

Phật giáo đưa ra những lối sống thực tiễn và cao đẹp cho mọi người, cũng không khác xa gì với những tư tưởng cao đẹp người đời đã từng có. Dù chúng ta không theo đạo Phật, những cũng chẳng hướng tâm về những điều tốt đẹp, sự bình an, và hạnh phúc, thì những điều đó cũng đâu đến được với ta, và đời sống của ta trở thành vô nghĩa, bất hạnh. Nếu không giữ được tâm và có sự hiểu biết, chúng ta có thể chán nản, buông xuôi cuộc đời, hoặc quay lại bám víu cầu cạnh vào những đức tin về thánh thần hộ mệnh và thượng đế cứu rỗi "linh hồn" mình. Ví dụ, cũng như việc tắm rửa hàng ngày vậy, ta cũng phải tự làm (trừ khi ta bị bệnh tật hay bất lực) khiến cho thân ta trong sạch. Cũng vậy, chính ta tự làm trong sạch Tâm ta, và mang lại sự bình an và hạnh phúc cho bản thân mình. Như Phật đã nói, tự mình mới làm được như vậy.

Trạng thái trong sạch (Thanh tịnh), bình an, và hạnh phúc của Tâm là ích lợi lớn nhất trong sự sống của con người (chứ không phải những khoái lạc vật chất và nhục dục). Đức Phật đã chỉ ra con đường và cách làm theo, nhưng chúng ta phải tự mình bước đi theo con đường đó, thì tự mình trải nghiệm những lợi ích đó mà con đường mang lại.


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!


Phật Pháp Tu Học

Email: phatphaptuhoc.vn@gmail.com

Facebook: https://www.facebook.com/phatphaptuhoc.vn/

Website: https://phatphaptuhoc.blogspot.com/

Youtube: https://www.youtube.com/c/phatphaptuhoc


Đăng nhận xét

0Nhận xét
Đăng nhận xét (0)
To Top