I. Duyên Khởi Kinh A-Di-Đà
Tôi đã nghe như vầy:
Đức Thế Tôn một thời đã ở nước Xá-Vệ, vùng cây Kỳ-đà (Thắng lâm).Trong vườn của Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng Tỷ-kheo gồm một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là các đại A-la-hán thời danh: Tôn giả Xá-lợi-phất,Tôn giả Đại-mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Đại Ca-chiên-diên, Đại Câu-hy-la, Ly-bà- đà,Châu-lợi-bàn-đà-dà, Nan-đà, A-nan-đà, La-hầu-la, Kiều-phạm-ba-đề,Tân-đầu-lô-phả-la-đọa,Ca-lưu-đà- di, Đại-kiếp-tân-na, Bạc-câu-la và A-nậu-lâu-đà. Ngài trú với chư Tôn giả này và nhiều đại đệ tử, cùng với nhiều Đại Bồ-tát như Pháp vương tử Văn Thù, Bồ Tát A-dật-đa, Bàn-đà-ha-đề, Thường Tinh Tấn. Ngoài ra, có mặt vua trời Đế-thích cũng như rất nhiều chư Thiên.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất rằng từ quốc độ này hướng về phía Tây qua mười vạn ức quốc độ của Phật ( 100.000 kotis=1 tỉ quốc độ của Phật), có một thế giới tên là Cực Lạc. Thế giới ấy có Đức Phật A-di-đà hiện đang thuyết pháp.
Đây là phần duyên khởi của kinh nói lên thời điểm, nơi chốn và thành phần thính chúng vân tập nghe Thế Tôn thuyết giảng kinh A-di-đà. Tại đây, Thế Tôn gọi Tôn giả Xá-lợi-phất đến để giới thiệu kinh mà không do một lời thỉnh cầu thuyết giảng nào (vô vấn tự thuyết).
Đoạn này nêu rõ thính chúng bao gồm ba đối tượng: - 1250 vị đại Tỷ-kheo, toàn là các bậc A-la-hán.
- Chư Đại Bồ-tát.
- Các vị thiên, nhơn v.v....
Thứ tự thính chúng vân tập theo kinh đã tế nhị nói lên trọng điểm giáo lý của kinh:
- Chúng Thanh văn, A-la-hán,vân tập đều là chúng đương cơ được giáo hóa để khởi tâm cầu Vô thượng Bồ- đề.
- Chúng Bồ-tát vận tập giữa là chúng tán dương.
- Chúng thiên, nhơn v.v...là chúng kết duyên.
Giáo lý trọng điểm là Bồ-tát giáo (Lục độ Ba-la-mật) là giáo lý Trung Đạo hay Diệu Hữu.
II. Cảnh Giới A-Di-Đà
ĐOẠN 1:
Xá-lợi-phất, vì sao thế giới ấy gọi là Cực Lạc? Vì chúng sinh ở thế giới ấy không có các thứ khổ đau, chỉ cảm nhận an vui, nên gọi là Cực Lạc. Xá-lợi-phất, thế giới Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy hàng cây (tùng, thông) toàn bằng bốn vật liệu quý (vàng, bạc, lưu ly, pha lê) bao quanh khắp nơi. Vì vậy, thế giới ấy gọi là Cực Lạc.
Nghĩa:
Giới thiệu tổng quát về cõi nước Cực Lạc của Phật A-di-đà, gọi là nước Cực Lạc do vì:
- Ở đó không có mặt tất cả các thứ khổ đau, chỉ thuần cảm nhận hạnh phúc, lạc giải thoát.
- Ở đó xứ sở gồm toàn bảy thứ báu ( thất bảo).
Như chúng ta hiểu, ngôn ngữ Đại thừa phần lớn là ngô ngữ biểu tượng nói lên thực tại vốn rời xa ngôn ngữ khái niệm của con người. Nói ở nước Cực Lạc, không có mặt hết thảy khổ đau là nói ở đó chúng sinh đã đoạn diệt khổ. Khổ diệt là nghĩa Diệt đế hay Niết-bàn. Chúng sinh ở nước của Phật A-di-đà như vậy là đã hành xong Phạm hạnh của Thanh văn (hay gần xong) và đang tu tập hướng đến Vô thượng chính đẳng chính giác. Chính báo của chúng sinh Cực Lạc là (hàng Bất thối) Vô sinh và Nhất sinh bổ xứ nên cảnh giới y báo hẳn là thanh tịnh, trang nghiêm bằng bảy báu là biểu tượng cho những gì quý giá ở ngoài sinh diệt.
ĐOẠN 2:
Xá-lợi-phất, Cực Lạc còn có hồ bảy báu (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não), trong hồ chứa đầy nước có tám tính chất quý (trong sạch, mát, ngọt, nhẹ, thuần, không gây họa, tiêu trừ đói khát và phát sinh thiện tâm). Đáy hồ trải cát vàng. Bốn phía chung quanh hồ bốn bậc cấp thì bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não. Hoa sen nở trong hồ thì lớn như bánh xe màu xanh với ánh xanh lộng lẫy, màu vàng với ánh vàng lộng lẫy, màu đỏ với ánh đỏ lộng lẫy, màu trắng với ánh trắng lộng lẫy, đầy hương thơm tuyệt vời. Xá-lợi-phất, thế giới Cực Lạc hình thành đẹp đẽ như thế.
a. Nghĩa đen
Tại nước Cực Lạc có ao bảy báu với nước tám công đức, với lòng cát vàng (bằng vàng); chung quanh là những lâu đài và đường đi bằng phẳng bằng tứ bảo (vàng, bạc, lưu ly, pha lê); với hoa sen chiếu các sắc xanh, vàng, đỏ, trắng có hương thơm vị diệu. (Nước tám công đức: sạch sẽ, mát mẻ, ngon ngọt, êm ả, nhẹ nhàng, gội thuần, yên lành, trừ đói khát và phát sinh thiện tâm).
b. Nghĩa biểu tượng
Nước Cực Lạc là nơi đoạn diệt khổ, nên chúng sinh đã và đang tiếp tục chứng đắc Thất giác chi (tượng trưng bằng bảy báu: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả) và tám cảnh giới thiền định (Tứ thiền sắc giới và Tứ không). Tại đó, chúng sinh đã chứng tâm giải thoát hoàn toàn (biểu tượng bằng hương thơm sen vi diệu) và đang tiến dần đến trí tuệ giải thoát tối thượng (biểu tượng bằng hào quang chiếu sáng từ hoa sen).
Do vì đã chứng đắc các quả vị của con đường tu tập Phạm hạnh (Giới, Định, Tuệ) nên chúng sinh được thác sinh về Cực Lạc.
ĐOẠN 3:
Xá-lợi-phất, thế giới Cực Lạc ấy thường trỗi thiên nhạc, đất có màu vàng đẹp, ngày và đêm có sáu lần mưa hoa mạn-đà-la. Chúng sinh ở thế giới Cực Lạc vào mỗi buổi sáng sớm thường hứng nhiều hoa dâng cúng một tỷ Đức Phật ở các thế giới khác. Đến giờ ăn thì trở về quốc độ của mình, dùng cơm và kinh hành. Xá-lợi-phất, nước Cực Lạc hình thành đẹp đẽ như thế.
a. Nghĩa đen
Giới thiệu ba điểm chính:
- Đất bằng vàng ròng, có thiên hoa và thiên nhạc.
- Chúng sinh dùng túi vải hứng thiên hoa cúng dường chư Phật, trở về bổn độ, độ trai và kinh hành.
b. Nghĩa biểu tượng
- Đất bằng vàng ròng là chỉ thanh tịnh, không cấu uế, gọi là Tịnh Thổ hay Tịnh Độ. Đất tịnh là ý nghĩa tâm tịnh, đã đoạn trừ các lậu hoặc.
- Thiên nhạc và thiên hoa: khi tâm thanh tịnh thì hiện an vui giải thoát; lòng đẹp như thiên hoa và vui như thiên nhạc.
- Dâng hoa cúng dường chư Phật là ý nghĩa mong cầu Vô thượng chính đẳng chính giác. Vừa nói lên chúng sinh ở đó không thụ hưởng, chỉ hành lợi tha.
- Cúng xong thì dùng cơm và đi kinh hành: sinh hoạt như chúng Tăng ở đời. Sinh hoạt của nhân dân nước Cực Lạc biểu hiện như sinh hoạt của một Tăng đoàn lý tưởng.
ĐOẠN 4:
Xá-lợi-phất, thế giới Cực Lạc còn các loài chim lạ đẹp, nhiều màu sắc: Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca-lăng-tần-dà, chim cộng mạng. Các loài chim ấy đêm và ngày sáu bận hót lên những âm thanh tuyệt nhã. Âm thanh ấy nói lên các pháp Ngũ canh, Ngũ Lực, Thất giác chi và Bát thánh đạo, các pháp như thế. Chúng sinh ở thế giới Cực Lạc nghe được âm thanh ấy thì đều niệm tưởng về Phật, về Pháp và về Tăng. Xá-lợi-phất, đừng nghĩ rằng các loài chim ấy do nghiệp ác mà sinh. Vì sao vậy? Vì thế giới Cực Lạc không có mặt ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh). Xá-lợi-phất, ở Cực Lạc các tên gọi ba đường ác cũng không có, huống chi là sự có mặt của ba đường ác. Các loài chim ấy do Đức Phật A-di-đà hóa thân để tuyên lưu diệu pháp. Xá-lợi-phất, thế giới Cực Lạc có gió nhẹ lay động các hàng cây quý và lưới quý làm phát ra các âm thanh tuyệt diệu tựa như có trăm nghìn nhạc cụ hòa tấu; người nghe âm thanh ấy tâm tư khởi niệm tưởng đến Phật, Pháp, Tăng, Xá-lợi-phất, thế giới Cực Lạc hình thành đẹp đẽ như thế.
a. Nghĩa đen
Nước Cực Lạc có nhiều loài chim đủ sắc màu tuyệt đẹp ngày đêm hót lên những tiếng hót thanh thoát, nói lên các lời pháp thuyết giảng về Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát thành đạo, nghĩa là thuyết giảng Đạo đế của Tứ thánh đế. Tiếng hót đã đánh thức chúng sinh nước Cực Lạc hướng niệm về giác ngộ tối thượng (niệm Phật), về ly tham ái, ly chấp thủ (niệm Pháp) và về Phạm hạnh (niệm Tăng).
Các loài chim ấy là do thần thông của Đức A-di-đà hóa hiện, mà không phải do nghiệp lực sinh, bởi ở đó đã thoát ly nghiệp địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.
Cực Lạc còn có gió chạm vào các cây báu gây nên những pháp âm đánh thức, nhắc nhở chúng sinh ở đó hướng niệm Phật, Pháp và Tăng bảo.
b. Nghĩa biểu tượng
Cảnh giới Cực Lạc là cảnh giới của những tâm thức thanh tịnh và giải thoát nên những tiếng chim hót ở đó phải là tiếng lòng giải thoát. Đó là tiếng vọng của tâm thức đã, đang và sắp chứng đắc thuần thục Ngũ căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ), Ngũ lực (tín lực, tấn, niệm và tuệ lực). Bảy phần giác ngộ (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả) và Tám thánh đạo (chính kiến... chính định).
- Thực ra, Tứ chính cần chỉ là phần tấn căn, tấn lực, tấn giác chi và chính tinh tấn có trong Ngũ căn, Ngũ lực, chính niệm và niệm giác chi...; tất cả các pháp lành trên là tiêu biểu cho Đạo đế và đang hướng đến Phật trí.
- Khi hành giả có định và tuệ thì sẽ thấy và nghe tiếng Pháp vô ngã khắp mọi nơi. Bấy giờ chim, mây, hoa, lá, núi, sông v.v... đều nói pháp. Cũng vậy, ở nước Cực Lạc, quê hương của trí tuệ, gió chim đều tuyên giảng Đạo đế.
Đó là ý nghĩa mà kinh A-di-đà dạy: các loài chim kia không phải do nghiệp lực sinh, mà do đức Phật A-di- đà hóa hiện.
- Thực tại A-di-đà thường xuyên thuyết Chính pháp nên chúng sinh ở đó có điều kiện để tăng trưởng trí tuệ, tăng trưởng khả năng ly dục và thành tựu rốt ráo Phạm hạnh (niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng).
ĐOẠN 5
Xá-lợi-phất, ý Tôn giả thế nào, vì sao Đức Phật ấy có danh hiệu A-di-đà? Xá-lợi-phất, vì Đức Phật ấy có ánh sáng vô lượng chiếu sáng khắp mười phương thế giới, không bị chướng ngại, nên hiệu là A-di-đà. Xá-lợi-phất, tuổi thọ của Đức Phật ấy và tuổi thọ của người trong thế giới của Ngài, là vô lượng vô số kiếp, nên hiệu Ngài là A-di-đà. Xá-lợi-phất, Đức A-di- đà đã thành Phật cách nay mười đại kiếp.
a. Nghĩa đen
Đoạn kinh này cắt nghĩa vì sao có danh hiệu A-di-đà. Do vì:
- Đức Phật ấy có hào quang vô lượng chiếu khắp mười phương mà không bị ngăn ngại.
- Đức Phật và nhân dân nước ấy sống lâu không thể nghĩ bàn.
Chú thích:
1. Theo từ điển Phạn Anh, thì một kiếp (1 kalpa) là 1 thời gian dài bằng tuổi thọ của vũ trụ này, dài bằng một ngày một đêm của cõi Phạm thiên (Sơ thiền Sắc giới) bằng 4.320 triệu năm trần thế.
2. Theo ghi chú của Sa-môn Quán Nguyệt trong tập Nhị Hóa Hiệp Khải thì một đại kiếp (hay nói gọn là một kiếp) bằng bốn trung kiếp, bằng tám mươi tiểu kiếp, bằng 1.280 triệu năm trần thế.
3. A-tăng-kỳ là một số gồm số 1 và 27 con số 0 theo, số vô lượng là một số gồm 1 và 29 con số 0 ở đằng sau.
4. Tuổi thọ của trời Tha Hóa Tự Tại ( Cõi thứ 6 của Dục Giới Thiên) đã dài bằng 9,2 tỷ năm trần gian (Xem Phật học khái luận, cùng soạn giả).
b. Nghĩa biểu tượng
- Hào quang chiếu khắp mười phương thế giới hào quang duy thần lực của Thế Tôn mới có thể có. Đức Thế Tôn nào cũng có hào quang vô lượng ấy cả; đó là kết quả của trí tuệ giải thoát tối thượng. Vì vậy không thể vì có hào quang vô lượng mà được gọi là A-di-đà, hiểu như một Đức Phật lịch sử, trừ ra A-di-đà được hiểu là tự tính giác ngộ của mỗi chúng sinh.
- Cõi vô sinh nào cũng có thọ mạng vô lượng cả, vì vậy không thể vì có thọ mạng vô lượng có gọi là A-di- đà hay cõi nước A-di-đà, trừ ra thọ mạng vô lượng là chỉ thực tướng vô tướng.
- Tại đây, A-di-đà đúng là tự tính thanh tịnh tâm.
III. Hàng Đệ Tử Được Đức A-Di-Đà Giáo Hoá
ĐOẠN 6
Xá-lợi-phất, Đức A-di-đà có vô lượng vô biên đệ tử Thanh văn, đều là các bậc A-la-hán, không thể biết được bằng toán số. Các đệ tử là Bồ-tát cũng tương tự như thế. Xá-lợi-phất, thế giới Cực Lạc đã hình thành đẹp đẽ như thế.
Xá-lợi-phất, chúng sinh ở trên thế giới Cực Lạc đều là các bậc Bất thối chuyển (hay Bất động)- không bao giờ trở lại, trong đó có nhiều chư vị chỉ một lần tái sinh thành Phật. Số này rất nhiều không thể bằng toán số mà hiểu được, chỉ có thể dùng con số vô lượng biên vô số mà nói.
a. Nghĩa đen
Đức A-di-đà có vô số lượng vô biên đệ tử A-la-hán, vô lượng vô biên đệ tử Bồ-tát Ma-ha-tát. Đó là công đức trang nghiêm của cõi ấy.
Các chúng sinh được sinh về cõi nước ấy đều là các bậc Bất thối (A-bệ-bạc-trí A-na-hàm), Vô sinh, trong số ấy rất nhiều là bậc Nhất sinh bổ xứ.
b. Nghĩa biểu tượng
Nếu A-di-đà là tự tính như trên đã bàn, là biểu tượng của Giới đức, Định đức và Tuệ đức, chúng sinh đến các quả vị A-na-hàm, A-di-đà-la-hán và Phật bổ xứ. Nếu chúng sinh có vô lượng vô biên, thì các quả vị Thánh kia cũng vô lượng vô biên mà kinh A-di-đà do Đức A-di-đà giáo hóa.
IV. Kết Quả Của Con Đường Tu Tập Do Đức A-Di-Đà Giáo Hoá
ĐOẠN 7
Xá-lợi-phất, nghe như vậy chúng sinh nên phát nguyện sinh về Cực Lạc. Vì sao vậy? Vì cùng được các bậc đại nhân như vậy chung sống một nơi. Xá-lợi-phất, nhưng không phải các việc thiện nhỏ ở đời mà có thể sinh về Cực Lạc. Xá- lợi-phất, nếu có một thiện nam, thiện nữ nào nghe nói đến Đức Phật A-di-đà, trì niệm danh hiệu Ngài từ một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày mà tâm được định chuyên nhất không loạn, thì người ấy lúc lâm chung được thấy Đức Phật A-di-đà cùng các Thánh chúng hiện ra trước mắt. Người ấy lúc chết tâm chính niệm liền được sinh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà. Xá-lợi-phất, Thế Tôn thấy ích lợi như thế nên nói rằng: ai nghe nói như vậy thì nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.
a. Nghĩa đen
Chúng sinh nào nghe nói vậy về cõi nước A-di-đà thì nên phát nguyện cầu sinh về đó, bởi vì sẽ hạnh phúc sống chung với các bậc Thánh giải thoát.
Nhưng nếu trồng ít căn lành, ít thiện duyên thì không thể sinh về đó được. Cần trì niệm danh hiệu A-di-đà từ một ngày cho đến bảy ngày mà được kết quả bất loạn.
Đây hẳn là hàng căn cơ có định, tuệ cao khi chết có Đức A-di-đà và Thánh chúng xuất hiện trước mắt, tâm giữ chính niệm, chính kiến (bất điên đảo) và liền được sinh về Cực Lạc. Thế Tôn dạy phát nguyện cầu sinh về Cực Lạc là vì lợi ích này theo ý nghĩa này.
b. Nghĩa biểu tượng
Đoạn kinh trên xác định ý nghĩa thật là cụ thể: Thế Tôn dạy chúng sinh nên cầu nguyện sinh về nước Cực Lạc nhưng không phải là lời cầu nguyện suông, mà là cầu nguyện cụ thể bằng hành động tu tập thiền định (ý nghĩa niệm danh hiệu A-di-đà là ý nghĩa hướng tâm vào Giới, Định và Tuệ) cho đến mức độ trong bảy ngày tu tập có thể vào đại định (từ Tứ thiền sắc định cho đến Diệt thọ tưởng định). Cho đến mức độ này thì quyết định được vãng sinh.Tại đây, chúng ta không nên mơ màng chờ đợi một phép lạ của tha lực nào cứu độ ngoài “con đường”
Điều kiện vãng sinh Cực Lạc này giống hệt với kết quả tu tập Tứ niệm xứ hay Đại niệm xứ của Nikàya và A-hàm (Xem Phật học khái luận, cùng soạn giả).
Công phu trì niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà hẳn là công phu tu tập thiền định (đặc biệt thích hợp với hàng tín căn).
V. Xác Định Sự Thật Giải Thoát Của Con Đường Tu Tập Giới, Định, Tuệ hay Trì Niệm A-Di-Đà
ĐOẠN 8
Xá-lợi-phất, như nay Thế Tôn đang tán dương, lợi ích không thể nghĩ được của Đức Phật A-di-đà, thì ở phương Đông cũng có các Đức Phật A-súc-bệ, Tu- di Tướng, Đại Tu-di, Tu-di Quang, Diệm Âm, hằng hà sa số Thế Tôn như thế, đều ở nơi thế giới của mình dùng âm thanh ngôn ngữ của mình truyền khắp một tỷ thế giới hệ nói lên lời chân thật rằng: “Các chúng sinh nên tin tưởng vào bản kinh tán dương các sự không thể nghĩ bàn và được chư Phật giữ gìn ấy”.
a. Nghĩa đen
- Đức Thích-ca dạy: “Như nay Thế Tôn tán dương lợi ích không thể nghĩ được của Đức Phật A-di-đà”, thì mười phương chư Phật cũng đang tán thán, đang phóng đại quang minh chuyển âm thanh đến đây nói lên lời chân thật rằng: “Các chúng sinh nên tin tưởng vào bản kinh tán dương các sự không thể nghĩ bàn và được chư Phật giữ gìn ấy”.
- Đức Thích Tôn dạy Tôn giả Xá-lợi-phất “Ý Tôn giả nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được chư Phật giữ gìn? Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào nghe kinh ấy, ghi nhớ và nắm được ý kinh, cùng nghe danh hiệu chư Phật giữ gìn, tất cả các người ấy sẽ đắc vị Bất thối chuyển đối với quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác. Cho nên, Tôn giả và chúng sinh nên tin lời Ta và lời chư Phật nói!
- Này Xá-lợi-phất! Nếu có người đã, đang, sẽ và phát nguyện muốn sinh về cõi Cực Lạc thì người ấy sẽ đắc quả Bất thối chuyển đối với Vô thượng chính đẳng chính giác, người ấy đã, đang , sẽ sinh về nước Cực Lạc kia.
b. Nghĩa biểu tượng
Thế Tôn Thích-ca và chư Thế Tôn trong mười phương thế giới đang cùng lúc tán thán công đức vô lượng của Đức Phật A-di-đà là ý nghĩa của Thế Tôn tán thán con đường mà truyền thống chư Phật trong ba đời hằng thuyết giảng trong mỗi thời pháp, vì đó là con đường độc nhất đưa đến giải thoát sinh tử.
- Về tướng lưỡi rộng dài: Nikàya có ghi rõ đó là thần lực của Như Lai (thập lực Như Lai): mỗi lần như vậy Như Lai muốn truyền âm thanh đi xa như ý muốn, thì Như Lai phóng hào quang đi trước, âm thanh sẽ nương theo hào quang mà đến nơi Như Lai muốn âm thanh đến. Ý nghĩa là thế, chứ không phải lưỡi hóa dài che phủ cả không gian.
- Các danh hiệu chư Phật của mười phương trong kinh A-di-đà đều là những biểu tượng của Giới, Định và Tuệ, Đại để:
* Đông phương
- A-súc-bệ (Bất Động): biểu tượng của người quyết tâm giải thoát.
- Tu-di Tướng: biểu tượng của Định,
- Đại Tu-di: biểu tượng của Định
- Tu-di-Quang: biểu tượng của Tuệ phát sinh từ Giới và Định.
- Diệu Âm: tiếng nói thật pháp.
Xá-lợi-phất, các thế giới ở phương Nam cũng có Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng, Danh Văn Quang, Đại Diệm Kiên, Tu-di Đăng, Vô Lượng Tinh Tấn, hằng hà sa số chư Phật như thế đang ở thế giới của mình dùng âm thanh ngôn ngữ của mình truyền khắp một tỷ thế giới (cõi Ta-bà) nói lên lời chân thật rằng: “Các chúng sinh nên tin tưởng vào bản kinh tán dương các sự không thể nghĩ bàn và được chư Phật giữ gìn ấy”.
Nghĩa biểu tượng
* Nam phương
- Nhật Nguyệt Đăng : biểu tượng của Đại chủng trí (Nguyệt), Nhất thế trí (Nhật) và Nhất thế chủng trí (Đăng).
- Danh Văng Quang: biểu tượng của Tuệ có mặt từ nói nghe (văn và tư) Chính pháp.
- Đại Diện Kiên: Tuệ có mặt từ Định.
- Tu-di Đăng: Tuệ có mặt từ Giới.
- Tinh Tấn: nhờ tinh tấn mà có Tuệ, mà thành tựu giác ngộ.
Xá-lợi-phất, các thế giới ở phương Tây cũng có Đức Phật Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Tướng, Vô Lượng Tràng, Đại Quang, Đại Minh, Bảo Tướng, Tịnh Quang, hằng hà sa dùng âm thanh ngôn ngữ của mình truyền khắp một tỷ thế giới (cõi Ta-bà) nói lên lời chân thật rằng: “Các chúng sinh nên tin tưởng vào bản kinh tán dương các sự không thể nghĩ bàn và được chư Phật giữ gìn ấy”.
Nghĩa biểu tượng
* Tây phương
- Vô Lượng Tràng: chính pháp hiện khắp.
-Vô Lượng Thọ: biểu tượng của Định đức.
- Vô Lượng Tướng: biểu tượng của Giới đức.
- Đại Quang, Đại Minh: thể và dụng của Tuệ.
- Bảo tướng: phước báo (hay báo thân) của Tuệ giải thoát.
Xá-lợi-phất, các thế giới ở phương Bắc cũng có Đức Phật Diệm Kiên, Tối Thắng Âm, Nan Trở, Nhật Minh, Võng Minh, hằng hà sa số chư Phật như thế đang ở thế giới của mình dùng âm thanh ngôn ngữ của mình truyền khắp một tỷ thế giới (cõi Ta-bà) nói lên lời chân thật rằng: “Các chúng sinh nên tin tưởng vào bản kinh tán dương các sự không thể nghĩ bàn và được chư Phật gìn giữ ấy”.
Nghĩa biểu tượng
* Bắc phương
- Diệm Kiên: (tương tự Đại Diệm Kiên).
- Tối Thắng Âm: tiếng nói giác ngộ, tiếng nói thật Pháp.
- Nan Trở: Tuệ viên mãn, vô sinh.
- Nhật Sinh: Tuệ nuôi dưỡng giác ngộ cho chúng sinh như mặt trời nuôi dưỡng động thực vật.
- Võng minh: Tuệ giác chiếu khắp.
Xá-lợi-phất, các thế giới ở phương Dưới cũng có Đức Phật Sư Tử, Danh Văn, Danh Quang, Đạt ma, Pháp Tràng, Trì Pháp, hằng hà sa số chư Phật như thế đang ở thế giới của mình dùng âm thanh ngôn ngữ của mình truyền khắp một tỷ thế giới (cõi Ta-bà) nói lên lời chân thật rằng : “Các chúng sinh nên tin tưởng vào bản kinh tán dương các sự không thể nghĩ và bàn được chư Phật giữ gìn ấy”.
Nghĩa biểu tượng
* Hạ phương
- Sư Tử Âm: tiếng nói xiển dương thật Pháp thức tỉnh chúng sinh khiến chúng sinh run khiếp.
- Danh Văn, Danh Quang, Đạt-ma : tuyên thuyết rõ diệu pháp.
- Pháp Tràng: nêu cao Chính pháp để loại bỏ tà pháp.
- Trì pháp: thâm hiểu Chính pháp.
Xá-lợi-phất, các thế giới của phương Trên cũng có Đức Phật Phạm Âm, Tú Vương, Hương Thượng, Hương Quang, Đại Diệm Kiên, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Ta-la Thọ Vương, Bảo Hoa Đức, Kiết Nhất Thiết Nghĩa, Như Tu-di Sơn, hằng hà sa số chư Phật như thế đang ở thế giới của mình dùng âm thanh ngôn ngữ của mình truyền khắp một tỷ thế giới (cõi Ta-bà) nói lên lời chân thật rằng: “Các chúng sinh nên tin tưởng vào bản kinh tán dương các sự không thể nghĩ bàn và được chư Phật gìn giữ ấy”.
Nghĩa biểu tượng
* Thượng phương
- Phạm Âm: tiếng nói thanh tịnh chuyển đi xa đến vô lượng thế giới.
- Tú Vương: tuệ sáng chói hơn các đại tinh tú. - Hương Thượng: hương Giới đức cao quý.
- Hương Quang: hương Tuệ đức cao quý.
- Đại Diệm Kiên: hương Đinh đức.
- Bảo Hoa Nghiêm Thân: Tuệ giải thoát tối thượng.
- Ta-la Thọ Vương: đoạn tận khổ, hoàn toàn vô sinh (như cây Ta-la bị chặt đứt không bao giờ sống lại).
- Bảo Hoa Đức: giải thoát tri kiến.
- Kiến Nhất Thiết Nghĩa: tứ vô ngại giải. -Tu-di Sơn (đã bàn).
ĐOẠN 9:
Xá-lợi-phất, Tôn giả nghĩ sao? Vì sao kinh này được gọi là kinh được chư Phật giữ gìn? Xá-lợi-phất, nếu có thiện nam thiện nữ nào nghe được kinh này mà nhớ hiểu, cùng nghe danh hiệu của Phật, thì thiện nam thiện nữ ấy sẽ được chư Phật giữ gìn, đối với tuệ giác vô thượng sẽ không thối chuyển. Cho nên, Xá-lợi-phất, các ngươi nên tin nhận lời nói của Ta và của chư Thế Tôn.
a. Nghĩa đen
- Thế Tôn dạy Tôn giả Xá-lợi-phất: “Này Xá-lợi- phất, ý Tôn giả nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được chư Phật giữ gìn?”
- Thế Tôn lại dạy : Nếu ai nghe kinh A-di-đà ghi nhớ và hiểu nghĩa và nghe danh hiệu chư Phật giữ gìn, sẽ đắc Bất thối chuyển. Vì vậy, Xá-lợi-phất và chúng sinh nên tin lời Ta và chư Phật nói.
b. Nghĩa biểu tượng
Ý nghĩa chư Phật hộ niệm kinh A-di-đà là hộ niệm người học hiểu và nghi nhớ nghĩa lý kinh A-di-đà. Do hiểu nghĩa kinh dạy và nương tựa vào nỗ lực giải thoát của mình. Do tinh cần tu tập Giới, Định và Tuệ mà khả năng giải thoát và trí tuệ giải thoát hiển hiện. Đây chính là ý nghĩa cứu độ của Đức Phật A-di-đà. Tha lực cứu độ chính là con đường Giới, Định, Tuệ và chư Phật hằng tuyên giảng.
Đúng như lời Tổ dạy trong Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu.
“Sấu khẩu liên tâm tịnh
Vãn thủy bách hoa hương
Tam nghiệp hằng thanh tịnh
Đồng Phật vãng Tây phương”.
Nếu không tự tu cho thanh tịnh thân, khẩu, ý, thì lấy cái tâm nào để vãng sinh Tịnh Độ?
ĐOẠN 10:
“Xá-lợi-phất, nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện, mong sinh về thế giới của Đức Phật A-di-đà, thì người ấy đối với Tuệ Giác vô thượng sẽ bất thối chuyển, đối với thế giới ấy thì hoặc đã sinh, đang sinh, hay sẽ sinh về. Cho nên, này Xá-lợi-phất, nếu ai có lòng tin thì nên phát nguyện sinh về thế giới ấy”.
a. Nghĩa đen
Thế Tôn dạy: “Này Xá-lợi-phất! Nếu có người đã, đang, sẽ phát tâm mong cầu về nước Cực Lạc, thì người ấy sẽ đắc quả Bất thối chuyển đối với Vô thượng chính đẳng, chính giác, người ấy và đã, đang, và sẽ sinh về nước Cực Lạc”.
b. Nghĩa biểu tượng
Như các đoạn trước đã nói, phát tâm mong cầu về Cực Lạc thì thực hành thiền định, hoặc trì niệm danh hiệu A-di-đà đến nhất tâm bất loạn. Hẳn là sẽ dẫn đến kết quả tất nhiên là A-na-hàm, A-la-hán hay Nhất sinh sinh bổ xứ. Kết quả đó là sự bảo đảm vãng sinh về Cực Lạc. Thực sự, đây là ý nghĩa đi vào tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Thời gian tu tập để giải thoát thì phụ thuộc công phu Định, Tuệ của mọi người.
VI. Giới, Định, Tuệ Hay Con Đường Giáo Hoá Của Đức Phật A-Di-Đà Là Con Đường Độc Nhất Dẫn Đến Giải Thoát?
ĐOẠN 11:
Xá-lợi-phất, như nay Thế Tôn đang tán dương những sự không thể nghĩ bàn của chư Phật, thì chư Phật ấy cũng đang tán dương những sự không thể nghĩ bàn của Thế Tôn (Ta) mà nói lên rằng: “Đức Phật Thích-ca Mâu-ni có thể làm các việc hiếm có và khó làm, có thể thành tựu tuệ giác tối thượng trong cõi Tà-bà khó bảo với năm thứ ô nhiễm: thời kỳ ô nhiễm, hiểu biết ô nhiễm, dục vọng ô nhiễm, chúng sinh ô nhiễm và đời sống ô nhiễm và có thể vì chúng sinh nói pháp mà cả thế giới khó tin.
Xá-lợi-phất, Tôn giả nên biết Thế Tôn đang ở trong cõi đời khó bảo và đầy năm thứ ô nhiễm mà làm được việc khó làm này: thành tựu tuệ giác vô thượng và vì hết thảy cõi đời mà nói lên pháp khó tin này, điều đó thật khó làm”.
Khi Thế Tôn nói xong kinh này, Tôn giả Xá-lợi- phất cùng với các vị Tỷ-kheo, các vị trời, người, A-tu- la trong toàn thế giới nghe điều Thế Tôn dạy đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ mà lui về.
a. Nghĩa đen
- Thế Tôn dạy: “Như Ta nay đã đang xưng tán công đức bất khả tư nghì của chư Phật, thì chư Phật cũng đang xưng tán công đức bất khả tư nghì của Ta, chư Phật đều nói lên rằng “Phật Thích-ca Mâu-ni có thể làm được việc thật khó làm, ở trong thời kỳ đủ năm thứ ô nhiễm mà có thể giác ngộ Vô thượng chính đẳng chính giác vì chúng sinh giảng nói diệu pháp khó tin”. Này Xá-lợi-phất! Nên biết trong giai đoạn này, đầy năm thứ ô nhiễm của cuộc đời Ta đã làm việc khó làm này, đã đắc Vô thượng giác và giới thiệu pháp giải thoát khó tin nhận. Quả là việc thậm khó!.
- Kết thúc kinh: chư Tăng, trời, người... hoan hỷ và phấn khởi vâng giữ các lời dạy của Thế Tôn. Tất cả đảnh lễ mà lui.
b. Nghĩa biểu tượng
Chúng sinh đời nay vốn trí tuệ yếu, lại đa tham, đa sân nên nhận rõ Vô ngã pháp là điều thậm khó, từ bỏ lòng tham ái và cố chấp là một điều thậm khó nữa. Việc khó như thế mà Đức Thích Tôn thực hiện: ra đời, xuất gia, thành đạo và thuyết giảng độ sinh hầu giúp chúng sinh giác ngộ xây dựng vương quốc trí tuệ của mình.
Đức Thích Tôn tán thán chư Phật trong mười phương cùng ý nghĩa tương tự.Tán thán chư Thế Tôn là tán thành trí tuệ giải thoát tuyệt vời và tán thành con đường Giới, Định, Tuệ tuyệt vời, sinh tử. Đồng thời, xác nhận cái khó nằm về phía giải thoát. Do đó, cần hiểu rằng: không thực sự có con đường giải thoát mà chỉ có con đường trừ khổ đau, không thực sự có pháp đức đến giải thoát, mà chỉ có pháp đoạn trừ tham, sân, si. Khi cái khó ở chúng sinh bị loại ra rồi, thì trí tuệ giải thoát và cảnh giới Cực Lạc tự hiện.
Nguồn: Tư Tưởng Kinh A-Di-Đà - H.T. Thích Chân Thiện
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Phật Pháp Tu Học
Email: phatphaptuhoc.vn@gmail.com
Facebook: https://www.facebook.com/phatphaptuhoc.vn/
Website: https://phatphaptuhoc.blogspot.com/
Youtube: https://www.youtube.com/@phatphaptuhoc

