Tổng Luận Về Kinh A-Di-Đà

0


 I. Kinh A-Di-Đà Là Kinh Xiển Dương Tha Lực Hay Tự Lực?


Một số người đinh ninh rằng kinh A-di-đà, thuộc tông Tịnh Độ, đề cao tha lực, đã truyền bá niềm tin ấy thành tín ngưỡng A-di-đà, chủ trương không phải học hỏi giáo lý, không phải thực hành thiền định, cả đến giới luật cũng ít quan tâm. Cứ niệm suông danh hiệu Ngài không kể số lượng bao nhiêu và chờ Ngài tiếp dẫn.

Thật là một tin tưởng thiếu căn cứ: có giáo lý giải thoát nào của Phật giáo mà không xây dựng căn bản trên tự lực? Kinh A-di-đà tiếp nối truyền thống của giáo lý nguyên thủy với tinh thần tu tập nền tảng: “ Hãy là hòn đảo, là nơi nương tựa của chính mình, ai khác có thể là nơi nương tựa?” đã nhấn mạnh : “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sinh bỉ quốc” và “Cực Lạc quốc độ chúng sinh sanh giả A-bệ-bạt-trí....”

Giáo lý A-di-đà ấy lại giảng dạy cho chúng đương cơ là hàng Thanh văn đệ tử (hàng Vô Học) chúng chơn thiện... chỉ là chúng kết duyên, lẽ nào lại chỉ giản dị niệm suông danh hiệu Ngài và cầu nguyện suông mà có thể vãng sinh Cực Lạc?

Đức Thích Tôn và chư Phật gọi là giáo lý A-di-đà là “nan tín chi pháp”, khó tin và khó hành, thì làm sao lại có thể truyền đạt giáo lý ấy cho những căn cơ thiểu Giới, thiểu Định và thiểu Tuệ?

Cảnh giới A-di-đà không có các thứ khổ, chỉ thuần lạc giải thoát, nghĩa là ở đó dành cho các chúng sinh đã ly dục, ly thủ sinh về, thì còn có chỗ nào dành để cho chúng ta, những người đang mang nặng tham, sân, si?

Đức A-di-đà cũng chỉ xuất hiện vào lúc lâm chung, trước những ai có khả năng thiền định, chỉ tu tập trong vòng bảy ngày đi đến nhất tâm bất loạn để tiếp dẫn. Chúng ta có được xếp vào khả năng thiền định ấy chưa? Chừng ấy vấn đề vừa nêu đủ cho chúng ta nhận thức rằng giáo lý A-di-đà là giáo lý đức độ, tự giác. Kinh A-di-đà chỉ xác nhận khả năng tu tập nào sẽ được vãng sinh Cực Lạc sau khi chết, mà không đảm bảo tiếp dẫn những chỉ niệm suông danh hiệu A-di-đà.

Đức Phật A-di-đà chỉ giáo hóa những chúng sinh nào tu đến vị Bất thối chuyển đối với Vô thượng chánh đẳng chánh giác hầu mở đường dạy đạo giải thoát cho chúng sanh.

Chỉ có con đường giải thoát Giới, Định, Tuệ cứu khổ sinh tử và chỉ cứu khổ những ai nỗ lực tu hành Phạm hạnh, tu tập trí tuệ và từ bi. Chúng ta không thể chờ đợi một tha lực nào khác giải thoát khổ đau sinh tử do chính tham, sân, si của chúng ta đưa đến. Ai khác, ngoài chúng ta?

Tuy thế, năng lực hỗ trợ lúc nào cũng có mặt ở thế giới tương duyên này. Sự tập trung niệm tôn hiệu A-di- đà sẽ đạt được một số lợi ích đáng kể như là:

- Nhiếp được tháo động của ba nghiệp thân, khẩu, ý.

- Nhiếp được các phiền não tức thời hàng ngày.

- Tín tâm mạnh, qua công phu niệm Phật, tâm hành giả sẽ đi đến hân hoan; từ hân hoan đi đến hỷ, kinh an, định; định sẽ dẫn khởi đến Tri kiến như thật “ ly tham “giải thoát” tri kiến giải thoát (tương tự lời đức Phật dạy ở Tương ưng II,tr.37, bản dịch của HT. Thích Minh Châu). Tha lực là có ý nghĩa như thế.


II. Cảnh Giới Cực Lạc


1. Xứ sở

Để con người có thể khái niệm được về một cảnh giới ngoài kinh nghiệm của con người, thì cách duy nhất để diễn đạt cảnh giới ấy là biến cảnh giới ấy thành một quốc độ với sự kiến thiết các ao, hồ, có cây cảnh, nhà cửa, đường đi như cõi đời.

Để giúp con người có thể hình dung được cái lộng lẫy, đẹp đẽ, hạnh phúc của cảnh giới kia, thì cách duy nhất là diễn đạt cảnh giới kia cấu trúc bằng thất bảo.

Đó là cách mà kinh A-di-đà đã giới thiệu về cảnh giới Cực Lạc.

Sự diễn đạt trên có hai tác dụng:

- Giúp con người tương đối có thể có một khái niệm về một cảnh giới giải thoát vốn đã hoàn toàn rời xa tất cả khổ đau sinh tử, đã đi vào nguồn an lạc, hạnh phúc.

- Gợi lên nơi tâm thức con người lòng ham thích cảnh giới Cực Lạc đó để phát khởi mạnh tâm tu tập Giới, Định, Tuệ. Chủ yếu là điểm này.

Thực sự cõi Cực Lạc có phải là một xứ sở không, khi ở đó chúng sinh đã giác ngộ vô ngã? Khi tâm thức đã không cảm nhận, không chấp thủ ngã tướng?


2. Chúng sinh và ngôn ngữ Cực Lạc

Kinh A-di-đà không đề cập đến chúng sinh ở Cực Lạc có hình thù như thế nào. Nhưng, các chúng sinh ấy tất cả đều đã, đang và sẽ nhập Niết-bàn Vô dư y thì hẳn là không còn mang thân sắc ngũ uẩn như chúng ta. Chúng sinh ở đó đi cúng thiên hoa mỗi sáng, thì hẳn là sử dụng chiếc thân rất vi tế của thần lực (hay thần thông). Ở đó có 8 nước công đức là tám thiền định, thì hẳn không phải phạm thực (dùng cơm) mà là thiền duyệt thực (vì thiền duyệt thực nên không có nạn đại tiểu tiện).

Ở đó sống lâu vô lượng vô biên thời gian (vô lượng thọ), lâu như chính thọ mạng của Như Lai thì hẳn thân chúng sinh là pháp thân, mà không thể là chiếc thân hữu vi.

Do vì có thân đặc biệt như thế nên ngôn ngữ cũng đặc thù. Tiếng hót của các loài chim đã là pháp âm vi diệu xiển dương Đạo đế và tiếng gió reo đã là pháp âm, thì chúng sinh ta có thể hình dung ra ngôn ngữ của chúng sinh Cực Lạc chính là tự thân của cảnh giới đó, hay chính là thực cảnh, thực tướng (bởi vì tất cả đều là ngôn ngữ của Phật pháp).

Dù không thể hình dung ra thân tướng và ngôn ngữ của chúng sinh nước Cực Lạc, nhưng chúng ta có thể xác nhận theo kinh A-di-đà rằng: tất cả chúng sinh ở đó đều là Thánh Bất Lai, Thánh Vô Học và các Đại Bồ-tát. Những bậc Thánh này tùy theo khả năng và hạnh nguyện thường ứng hiện vô số thân. Vì hiện vô lượng thân tướng nên không thực sự có một thân tướng nào cố định, nên không có một ngôn ngữ nào cố định (hay nói vô lượng ngôn ngữ khác nhau). Vì có thể nói vô lượng ngôn ngữ nên có thể nghe hiểu vô lượng âm thanh của chim hót, của gió reo là một.


3. Cảnh giới A-di-đà là một cảnh giới tu hành Phạm hạnh lý tưởng, kiến tạo có gốc từ kinh nguyên thủy Phật giáo

- Một cảnh giới, theo kinh A-di-đà, chỉ hiện hữu các bậc Thánh và Đại Thánh với ngôn ngữ diệu âm, vắng bóng tất cả tội khổ, thì rõ đấy là cảnh giới mộng ước, lý tưởng của người xuất gia. Phương chi, chư Tổ đã chọn kinh A-di-đà đặt vào một thời công phu chính mỗi ngày của nhà chùa.

- Lúc chiều xuống, thì nhà chùa lại cất cao lời kinh A-di-đà, như thể gọi về lòng mình một thế giới đầy sức sống của Giới, Định, Tuệ đầy thiên hoa và đầy thiên nhạc.

- Nhiều kinh thuộc Nikàya và tạng A-hàm đề cập đến Ngũ Bất Hoàn thiên của cõi Tứ Thiền Sắc Giới. Cảnh giới này là nơi thác sinh của các Thánh Bất Lai sau khi tịch có thể nhập Niết bàn trên đường tới Ngũ Bất Hoàn thiên; có thể nhập Niết- bàn vào một thời điểm nào tại Ngũ Bất Hoàn thiên, chậm nhất là nhập Vô dư y Niết-bàn vào cuối đời thọ mệnh tại đó.

Thọ mệnh của chư thiên Ngũ Bất Hoàn cũng lâu dài vô lượng vô biên. Cứ thử tính một ngày một đêm ở cõi Sơ Thiền Sắc Giới là đã dài bằng tuổi thọ của vũ trụ trước mắt chúng ta (bằng 4320 triệu năm). Tuổi thọ của cõi Sơ Thiền đã không thể tính hết bằng thời gian trần thế, huống nữa là thọ mệnh tại cõi trời Tứ Thiền.

Theo đó, cõi trời Ngũ Bất Hoàn có nhiều điểm chính giống hệt với cõi Cực Lạc, như:

- Về thọ mạng

- Về chúng sinh (toàn là các bậc thánh).

- Về pháp tu tại đó tiếp tục thành tựu, viên mãn Đạo đế chứng ngộ Diệt đế. Do đó, chúng ta có thể đi đến kết luận: việc xây dựng cảnh giới Cực Lạc của kinh A-di-đà (là kinh ra đời sau Nikàya và A-hàm) có gốc từ kinh tạng nguyên thủy Phật giáo.

Một điểm đáng chú ý khác là, kinh A-di-đà không quá làm nổi bật hình ảnh của chư Bồ-tát tương tự như chính Nikàya. Tứ thánh đế vẫn là giáo lý trọng tâm mà Đức Phật A-di-đà đem ra giáo hóa chúng Thánh tại đó.


4. Cõi Cực Lạc ở nhân gian (nhân gian Tịnh Độ)

Cõi Cực Lạc trên là cõi nước lý tưởng của các bậcThánh thể hiện ước mơ của người đời, của chúng sinh trong sinh tử đầy ô trược, khổ đau. Như những câu chuyện thần tiên ở đời, người bình dân vất vả sau một ngày làm lụng khó nhọc, lại đọc hay kể lên các mẫu chuyện thần tiên mở ra các cảnh giới thần tiên tưởng tượng hầu nép mình một chốc trong thế giới dễ chịu đó để quên đi những mệt mỏi, chán nản. Cũng vậy, cõi nước A-di-đà đã mở ra cho những tâm hồn ước mơ hạnh phúc của thanh tịnh và giải thoát để nuôi dưỡng và mở rộng hy vọng, niềm tin và sức sống.

- Mặt khác, nếu hiểu cảnh giới A-di-đà là cảnh giới của tâm thức, thì hạnh phúc của chúng sinh Cực Lạc có thể tìm thấy ngay ở đời.

- Với một tâm hồn hiền thiện, có chính kiến trí tuệ thấy vô ngã tướng của các pháp thì tâm thức sẽ đón nhận ngay trong hiện tại những nguồn cảm thọ thanh thoát của hỷ lạc. Người ấy nghe như đời này có nhạc và hoa, thấy và nghe vô ngã, vô thường khắp mọi nơi, ý thức rõ ràng chỉ có các hiện tượng mệnh danh là khổ đau và ngay cả hiện tượng gọi là khổ đau thì cũng chỉ là một nhóm nhân duyên và không có khổ đau thật.

Vì thấy, nghe rõ vô thường, vô ngã, người ấy khởi tâm niệm tưởng Phật, Pháp, Tăng. Với tâm hồn ấy, cõi Cực Lạc có mặt ở trần gian.

- Có quan niệm mệnh danh là tích cực, xem cõi nước Cực Lạc được diễn đạt ở kinh A-di-đà với bốn mươi tám lời nguyện của Phật A-di-đà như một mô hình để kiến thiết xây dựng một cõi nhân gian nhuốm đầy sắc thái Cực Lạc, dù phải trải qua một thời gian lâu dài, thời gian để chờ đợi hội tụ cộng nghiệp “Tịnh Độ”.

Trong cõi nước này, được hiểu một cách rất là cụ thể, con người (nhân) sống có nhiều kiến thức và trí tuệ (ý nghĩa của niệm Phật), sống hỷ xả, nặng vì hạnh phúc của tha nhân, tập thể, định tĩnh, sáng suốt (niệm Pháp) và sống có kỷ luật, trật tự, thành thật, hòa hợp và ngay thẳng (niệm Tăng). Về mặt xã hội, dưới sự soi sáng của trí tuệ, con người vận dụng sáng tạo vào mặt khoa học – kỹ thuật để xây dựng một cõi nước vật chất tiện nghi và hạnh phúc, đại để như xây dựng các mặt:

- Xây dựng văn hóa, văn minh cao, xã hội không có trộm cắp, giặc giã, ác độc (lời nguyện A-di-đà của Phật: không có ba đường dữ).

- Con người khỏe mạnh, vui tươi, đẹp đẽ (lời nguyền số 3: nhân dân đều có sắc vàng).

- Sống thiện, an lạc và hạnh phúc (lời nguyện số 4: không có ranh giới khu biệt giữa trời và người).

- Nhân dân biết tự giác để hướng thượng, học hỏi kinh nghiệm để hướng thượng (lời nguyện số 5: nhân dân có túc mệnh thông).

- Có phát sinh nhiều máy móc tinh vi có thể thu nhiếp hình ảnh từ những hành tinh xa xôi và có thể chuyển đi bất cứ nơi đâu trong nhân dân (lời nguyện số 6: nhân dân có thiên nhãn thông).

- Nhân dân sống thành thật, có lý tưởng phục vụ tập thể rõ ràng (lời nguyện số 7: có tha tâm trí).

- Có các phương tiện di chuyển nhanh chóng, thuận lợi và hiện đại (lời nguyện số 8: bay đi tự tại).

- Có các máy móc ghi âm và truyền âm tốt, thiện xảo (lời nguyện số 9: nhân dân có thiên nhĩ thông – có thể nghe xa như ý muốn).

- Nhân dân học hỏi nhiều, có kiến thức rộng ... (lời nguyện số 15 và 19: có biện tài vô ngại, hiểu xa).

- Tất cả có học hiểu và hành đạo giải thoát của Giới, Định, Tuệ (lời nguyện số 28: tất cả thấy cây Bồ đề).

- Xứ sở sạch sẽ, vệ sinh, trật tự, thẩm mỹ (lời nguyện số 31 và 32: đất bằng phẳng, trong suốt như gương, đầy hương thơm).

- Ăn mặc sung mãn (lời nguyện số 38: y phục tự nhiên có).

- Có hạnh phúc, có sáng tạo và trí tuệ phát triển vô hạn (lời nguyện số 44 và 48).

Về tư tưởng kiến thiết nhân gian Tịnh Độ này, Tiểu phẩm và Đại phẩm Bát-nhã có ghi các lời nguyện tương tự như trên và có ghi cụ thể hơn về một số điều nguyện khác như:

- Nhân dân không có phân biệt bốn giai cấp (nguyện 12).

- Nhân dân trong nước không có nạn đại tiểu tiện (nguyện 19). Nghĩa là có nhiều nhà vệ sinh rất tiện nghi và hiện đại ở khắp nơi tư gia và ở các nơi công cộng.

- Trong nước không có ai mắc bệnh tật (nguyện số 2) (nghĩa là ăn ở vệ sinh và tổ chức y tế tốt).

Qua các lời nguyện kiến thiết nước Tịnh Độ vừa nêu trên, tổng quát chúng ta có thể hình dung ra một xã hội con người với một số nét chính như:

- Có một hệ thống giáo dục tốt.

- Có một hệ thống tổ chức xã hội tốt, giao thông vận tải, thông tin tốt.

- Có một nền kinh tế rất phồn vinh.

- Ngành y tế rất tiến bộ và được tổ chức quy mô.

- Tất cả học hỏi và sống với thái độ rất nhân bản, nhân đạo, đầy từ bi và trí tuệ.

Xã hội khoa học-kỹ thuật hiện đại của các nước tiên tiến đã có thể thực hiện được cơ sở vật chất của nước “Tịnh Độ nhân gian” đó, nhưng về mặt tâm hồn thì chưa. Nếu biết tu tập và loại trừ tham, sân, si (là những động cơ của tranh chấp, xung đột và chiến tranh), biết loại trừ tâm vị kỷ, biết sống vì hạnh phúc của nhân dân, của tất cả, thì có thể từ thế kỷ 21 trở đi, con người có thể thực hiện xã hội hạnh phúc, an lạc ấy. Thay đổi (cải tiến) đời sống vật chất thì không khó, nhưng cải tiến đời sống tâm thức, trí tuệ thì nghìn lần khó hơn. Nếu con người sống là chọn lựa hướng đi lên, thì dù khó khăn thế nào cũng không thể từ bỏ hướng đi vào cõi nước “Tịnh Độ nhân gian” ấy. Hoặc chọn lựa con đường sự hủy diệt do hạch tâm, hoặc chọn lựa con đường sống trí tuệ và từ bi. Đó là vấn đề của thời gian và lịch sử.


III. Giáo Dục Trong Kinh A-Di-Đà


Giáo lý và pháp hành được kinh A-di-đà trình bày một cách thoang thoảng nhẹ nhàng.


1. Nói về pháp tính vô ngã, hay tính tương dung tương nhiếp, hoặc tính “một là tất cả, tất cả là một”, thì kinh diễn đạt thoảng qua mấy nét:

- Chúng sinh cõi Cực Lạc đem thiên hoa đến mười phương quốc độ để cúng dường mỗi sáng, đi lại tự tại không vướng ngại không gian và thời gian (tại đây còn nói lên chúng sinh Cực Lạc sống vị tha, không hưởng thụ).

- Mười phương chư Phật đồng xưng tán Đức A-di- đà và Đức Thích-ca một lúc, đồng chuyển âm thanh đến cõi đời như là tiếng nói xảy ra trước mắt, không bị ngăn ngại bởi các tướng thời gian và không gian.

- Gió, chim và cây cối đồng nói diệu pháp để nhắc nhở giải thoát (nói lên tính vô ngã và tính bình đẳng).


2. Diễn về Đạo đế

Kinh giới thiệu Đức Thế Tôn A-di-đà đã gián tiếp truyền qua tiếng chim hót vừa vui vẻ, vừa nhẹ nhàng, vừa đầy tính văn học nghệ thuật, vừa rất là “tâm lý giáo dục” (không có ai thật sự dạy ai, mỗi người tự lắng nghe cuộc đời mà học hỏi, mà sống). Giáo lý Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát thánh đạo chỉ được đề cập thoảng qua đủ nhắc nhở chúng sinh quay về sâu vào tự tánh Phật, tự tánh Pháp và tự tánh tăng của mình.


3. Về Bồ Tát Đạo

Kinh A-di-đà không nhấn mạnh cụ thể về Bồ-tát hạnh như nhiều kinh Đại thừa khác, ở đây chỉ điểm vài nét đơn sơ như là:

- Thính chúng vân tập (nghe kinh) có mặt chư Đại Bồ-tát.

- Chúng sinh thực hiện hạnh bố thí (cúng dường mỗi ngày) hướng về mười phương chư Phật để cầu Phật trí.

- Người và cảnh vật đều không do nghiệp lực sinh, đều bình đẳng nói Pháp.

- Thánh chúng hằng sẵn sàng tiếp đón chúng sinh về cõi Cực Lạc, những chúng sinh nào có tâm và tuệ giải thoát bán phần (hạnh cứu độ tiếp dẫn).

- Hạnh Bồ-tát, cứu độ chúng sinh không ngừng nghỉ biểu hiện qua chư Phật của mười phương.

Tại đây, hạnh tu giải thoát và giúp chúng sinh giải thoát chỉ là một. Chư vị Thánh “Nhất sinh bổ xứ” ở thế giới Cực Lạc cũng nhiều vô số, đã đang và sẽ đi vào sinh tử để giáo hóa chúng sinh. Khi phần tu tập giải thoát tự thân để có đủ khả năng và điều kiện cứu độ đã ổn, thì việc cứu độ tiếp theo tự nhiên. Huống nữa, các pháp (như chim, gió, cây cối v.v...) tự thân đã nói pháp, đã hành “Pháp thí Ba-la-mật” (vô phân biệt, vô chấp thủ) thì tự thân chúng sinh cũng đang làm như thế.


IV. Ý Nghĩa Vãng Sinh Cực Lạc


Có một số quan niệm đương thời giản dị cho rằng: cứ tin tưởng có thế giới tha lực của Phật A-di-đà mà niệm danh hiệu Ngài và cầu nguyện thì sẽ được Ngài cứu về Cực Lạc. Quan niệm này thật không ổn, đã biến Đức Phật A-di-đà thành một đấng có quyền thưởng phạt.

Nội dung của trì niệm danh hiệu A-di-đà và cầu nguyện vãng sinh về Cực Lạc đã bị hiểu nhầm to.

Trì niệm, theo kinh A-di-đà, không phải xưng tên Ngài một cách suông, mà là nhiếp niệm, nhiếp tâm vào Giới, Định, Tuệ để hàng phục ngay tại đây, trên cuộc đời này các vọng tưởng, vọng niệm của mình cho đến mức độ “nhất tâm bất loạn”.

Cầu nguyện ở đây không phải là bạch suông với Phật rằng con thiết tha mong Ngài cứu độ về nước Cực Lạc của Ngài, mà nội dung của cầu nguyện là hành Giới, Định và Tuệ (nói gọn là hành niệm định Phật giáo) để loại trừ tham, sân, si cho đến mức độ tâm thức bất thối chuyển đối với mục đích giác ngộ giải thoát khổ đau hoàn toàn.

Niệm như thế và cầu như thế là sửa soạn điều kiện để vãng sinh Cực Lạc, sau khi chết. Vãng sinh ở đây là công việc tự lực hoàn toàn, cảnh giới A-di-đà và Đức Phật A-di-đà hiện ra như là một hấp lực ở đằng trước mặt có tác dụng, tác động và làm phấn khích chúng ta đi tới.

Nếu cảnh giới A-di-đà được hiểu là cảnh giới tâm thức của mỗi chúng sinh, thì vãng sinh Cực Lạc có nghĩa là ra khỏi các tâm lý tác nhân gây ra phiền não khổ đau, vãng sinh là đi về với thiện tâm và giải thoát tâm, về vương quốc trí tuệ của mình.

Đức Thích Tôn, Đức A-di-đà và chư Thế Tôn là những đấng giác ngộ chỉ đường, chỉ làm công việc “chỉ đường” cho chúng sinh. Đi là công việc của chúng ta. Chúng ta phải đi bằng đôi chân tâm thức của mình, mà không đi với đôi chân của người khác. Và đi về Tịnh Độ Cực Lạc là đi về với tâm lý vô tham, vô sân, vô si, là đi ra khỏi tham, sân, si.

Ý nghĩa vãng sinh Cực Lạc trong kinh A-di-đà là thế.


V. Khía Cạnh Văn Hoá, Xã Hội & Tâm Lý Trong Kinh A-Di-Đà

 

1. Khía cạnh văn hóa

Văn hóa là toàn thể hình thức sinh hoạt của một tập thể loài người thế nào để thích ứng với thiên nhiên và để tồn tại có ý nghĩa rất người và rất hạnh phúc. Văn hóa với nghĩa rộng rãi này bao gồm đủ các hình thái sinh hoạt của xã hội: văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội v.v...

Nói gọn và cụ thể hơn, con người sinh ra là để hạnh phúc, tất cả các hình thức sinh hoạt của xã hội là nhằm đem lại hạnh phúc cho con người, do đó, văn hóa là nhằm phục vụ mục tiêu hạnh phúc của con người. Để đi đến mục tiêu hạnh phúc ấy, văn hóa có sứ mệnh làm giảm nhẹ dần khổ đau cho đến khi khổ đau biến mất.

Cảnh giới của Đức phật A-di-đà là cảnh giới được xây dựng lên ở đỉnh cao nhất của văn hóa, làm vắng bóng hẳn các thứ khổ đau: “vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc”. Nói khác đi, văn hóa A-di-đà là nền văn hóa lý tưởng của nhân loại. Ở đó rất an ninh và thanh bình (vấn đề an ninh và quốc phòng không còn là gánh nặng); ở đó có đời sống y thực sung mãn (không có các vấn đề kinh tế khó khăn); ở đó không có tật bệnh, dân chúng khỏe đẹp và sống lâu (vấn đề y tế rất bảo đảm, rất tốt đẹp, an toàn); ở đó tất cả dân chúng đều thoải mái cả thân lẫn tâm, đều sống hiền thiện và chánh hạnh (rất đạo đức, không có các vấn đề xã hội cần giải quyết); ở đó dân trí cao, thông minh, trí tuệ (vấn đề giáo dục rất lý tưởng) ở đó có trời đất đều đơm hoa thơm và trỗi điệu nhạc (vấn đề mỹ thuật, văn nghệ rất cao); ở đó có trí tuệ, tín ngưỡng rất trí tuệ và rất trong sáng (vấn đề tín ngưỡng); và sau cùng, ở đó thế giới có một hòa điệu tuyệt vời giữa con người và con người, con người và thiên nhiên. Ai có thể bảo rằng đó không phải là nền văn hóa của con người rất người và rất tốt đẹp.

Nhưng bằng cách nào để thực hiện nền văn hóa đó trên trái đất?

Con đường thực hiện nền văn hóa A-di-đà là con đường sống Đạo đế, thực hiện dần dần một trong các pháp của ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Nói gọn hơn, con đường thực hiện nền văn hóa mới là bát thánh đạo xây dựng đủ các yêu cầu văn hóa (nghĩa hẹp), âm nhạc, thẩm mỹ, giáo dục, đạo đức, kinh tế, y tế, xã hội và an ninh trong một nhịp nhàng hòa điệu. Tất cả được xây dựng trong một tương quan duyên khởi (thuộc chánh kiến) không phiến diện cục bộ, tất cả tồn tại và phát triển đồng bộ trong tương quan mật thiết và vững vàng như là có bảy lớp lan can, bảy hàng cây báu và bảy lớp lưới xung quanh xứ sở Cực Lạc.

Hẳn là nền văn hóa A-di-đà ấy đã để lại cho chúng ta những trầm tư cần thiết để xây dựng thiết thực xã hội con người nổi bật sắc thái của tình thương và trí tuệ.


2. Khía cạnh xã hội

Như đã trình bày ở tiết 2, chương này, về mô hình thiết lập cảnh Cực Lạc ở nhân gian, vấn đề xây dựng một xã hội thịnh vượng về kinh tế, phát triển về giáo dục đem thanh bình cho cuộc sống và tổ chức tiện nghi cho cuộc sống là vấn đề xã hội lớn (xã hội theo nghĩa rộng).

Giáo dục nhân dân sống hiền thiện, đạo đức và chánh nghiệp để loại bỏ được các tệ nạn xã hội như: tứ đổ tường, cướp bóc, tà hạnh, tham ô v.v... là ổn định được nhiều vấn đề xã hội (nghĩa hẹp) mà hiện tại nhiều xứ sở đang quan tâm.

Giáo dục nhân dân có kiến thức tốt về các ngành chuyên môn về âm nhạc, thẩm mỹ, y tế, khoa học để phục vụ các mục tiêu xây dựng và kiến thiết xứ sở về mặt vật chất. Giáo dục nhân dân về lòng từ bi, vị tha và chánh kiến sẽ xóa bỏ được các nạn kì thị chủng tộc, kỳ thị giai cấp và kị thị phái tính, thực hiện được tình đồng bào thắm thiết và tinh thần đoàn kết dân tộc và nhân loại. Tất cả các điều đó có bao hàm trong bốn mươi tám lời nguyện của Đức Phật A-di-đà. Đặc biệt, bốn mươi tám lời nguyện kia thiết lập nên một xã hội rất công bằng, tạo được cơ hội và điều kiện sống đồng đều cho mọi người dân.

Đấy là một vấn đề xã hội lớn cần được con người đặc biệt quan tâm suy nghĩ và thể hiện.


3. Khía cạnh tâm lý

Khía cạnh tâm lý biểu hiện qua kinh Đại thừa là một hình thái vận dụng tinh thần khế cơ của kinh. Thính chúng nghe kinh A-di-đà bao gồm ba đối tượng chính:

- Chúng Đại Bồ-tát là chúng tán dương, không đặt thành vấn đề khế cơ ở đây.

- Chúng Thanh văn là đối tượng nghe kinh chính, nên nội dung của thời thuyết giảng nhắm vào đối tượng nghe này.

- Đặc biệt đối với con người ... (là chúng kết duyên) kinh phải chọn hình thức diễn đạt thế nào để họ có thể tiếp thu giáo hạnh của Thanh văn, khởi lên tín tâm và quyết định tu tập. Đây chính là vấn đề khế hợp với tâm lý của con người: khế hợp tâm tham ái, chấp thủ, và ý chí yếu kém.

a. Nếu diễn đạt thẳng cõi nước Cực Lạc là cõi nước của tịch tịnh, vô ngã, vô dục, thì con người khó tiếp thu về mặt nhận thức và khó chấp nhận về mặt tình cảm. Họ khó có thể hình dung và chấp nhận một cảnh giới mà không giống gì với cuộc đời này. Do vậy, kinh đã vẽ nên nước Cực Lạc có đầy đủ cây cối, chim chóc, nhà cửa, đường sá, ao hồ, hoa lá, v.v... Nếu giả thiết con người vì một nhân duyên mà được sinh về đó, họ sẽ cảm thấy gần gũi, thân ái để chấp nhận. Huống nữa, cảnh giới Cực Lạc toàn bằng bảy chất liệu quý báu, là chính cuộc đời này được nâng lên cấp độ đẹp đẽ, toàn hảo nhất và vui vẻ, an lạc nhất, hẳn là khơi dậy được nơi họ lòng ham thích mong sinh về đó, nhất là khi trước mắt họ cuộc đời đang hiện ra bất toàn, bất tịnh, bất an và đầy khổ đau.

Nỗi ám ảnh lớn nhất của con người là tai nạn, bệnh tật và khổ đau và ước mơ lớn nhất của con người là hạnh phúc mãi mãi. Kinh A-di-đà đã xóa sạch hết khổ đau ở cõi Cực Lạc và treo cao hình ảnh thuần lạc thú hạnh phúc ở đó khiến con người càng rộn rã mong về.

Càng ước mơ nước Cực Lạc, con người càng lo đọc tụng kinh A-di-đà, trì niệm danh hiệu Ngài và cầu nguyện vãng sinh. Dần dần họ tìm hiểu nghĩa lý, bấy giờ là thời điểm họ có thể tiếp thu giáo lý Tứ đế và nỗ lực thực sự tu tập để mong cầu được kết quả của nhất tâm bất loạn ngay hiện tại. Cho đến khi họ vào được định, họ tương đối có đủ định và tuệ để thấy rõ điều kiện vãng sinh Cực Lạc rằng: không phải vào được tứ thiền Sắc định là có thể vãng sinh Cực Lạc, mà tại đó họ cần thực hành thiền quán cho đến khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đắc A-na-hàm quả thì mới hội đủ nhân duyên để vãng sinh. Từ khi phát tâm tụng đọc kinh A-di-đà và trì niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà cho đến khi trừ xong năm hạ phần kiết sử là quá trình tu tập kết duyên để vãng sinh Cực Lạc.

b. Nếu ở đời tu tập đến A-na-hàm quả thì đương nhiên vãng sinh Cực Lạc, tại sao Thế Tôn lại dạy khuyên nên phát nguyện vãng sinh Cực Lạc?

Phát nguyện ấy đem lại nhiều lợi ích cho người tu như là:

* Lợi ích thứ nhất: phát nguyện là hình thức nuôi dưỡng ý chí giải thoát, nuôi dưỡng quyết tâm tu tập cho đến chỗ nhất tâm bất loạn, hay đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.

* Lợi ích thứ hai: Thế Tôn mở ra cánh cửa Cực Lạc như một hóa thành để hành giả đỡ mệt mỏi, chán nản về con đường đến Nhất Thiết Trí quá xa xôi. Cảnh giới Cực Lạc như là một trạm dừng nghỉ đầy hạnh phúc và lý thú trước khi đi tiếp chặng đường thứ hai từ A-na-hàm đến Nhất Thiết Trí, mà thời gian đi tiếp có thể kéo dài cả hàng tỉ tỉ năm ở cõi đời. Khoảng thời gian dài đằng đẵng ấy chỉ gây ảnh hưởng mệt mỏi đến những người sơ cơ và yếu kém trí tuệ, mà không gây dao động tâm lý ở những bậc vốn đã và sắp đoạn tận ái thủ.

Điểm tâm lý trên thích hợp với hàng tín căn, hỗ trợ được hàng tín căn. Với hàng định căn và tuệ căn thì điểm tâm lý ấy không có tác dụng.

Với hàng định căn, thì lại thực hiện thiền định, cho đến nhất tâm bất loạn, nhiên hậu hành thiền quán để đoạn diệt năm hạ phần kiết sử.

Với hàng tuệ căn, thì rõ ngay cần đoạn trừ năm hạ phần kiết sử trước khi về Cực Lạc, hay Ngũ Bất Hoàn thiên. Có bậc tuệ căn chỉ hành thiền quán (không có định) mà vẫn trừ được năm hạ phần kiết sử - hạng này hiếm có. Hầu hết các bậc tuệ căn khác cần phải trải qua tứ thiền, hay ít nhất là sơ thiền, nhị thiền hoặc tam thiền. Với định lực này thì việc hành thiền quán để đoạn trừ các kiết sử mới có hiệu quả.

Các hình thức giới thiệu giáo lý để thích ứng với các loại tâm lý khác nhau trên là những hình thức vận dụng tinh thần phương tiện thiện xảo của Đại thừa.


VI. Kết Luận

 

Có những điểm giáo lý trọng tâm của các bộ phái Phật giáo chúng ta cần nắm vững khi đi vào tìm một kinh là:

- Giáo lý Phật giáo có sứ mệnh chính là chỉ rõ những khổ đau, nguyên nhân khổ đau của cuộc đời và con đường tu tập dẫn đến Niết-bàn, trí tuệ giải thoát.

- Với giáo lý Nam truyền của Thượng tọa Bộ và Nhất thiết Hữu Bộ thì đích giải thoát nhắm đến là quả vị A-la-hán, giải thoát thân (Vimutikàya).

Nhưng với giáo lý Bắc truyền của giáo lý phát triển, thì nhắm đến đích giải thoát sau cùng là Phật trí hay Nhất thiết trí. Con đường giải thoát vẫn là Đạo đế (trong tứ thánh đế) đi kèm với hạnh độ tha, với mong cầu Phật trí. Dù đi theo ngõ đường Bồ-tát hạnh, hành giả cũng nghiêng nặng phần tự tu cho đến Bát địa Bồ-tát – quả vị trừ hết tập khí chấp thủ ngã và pháp. Chỉ có Bồ-tát Cửu địa và Thập địa mới tích cực dấn thân vào sinh tử để độ sinh.

Kinh A-di-đà không đi ra khỏi nội dung của giáo lý Bắc truyền. Tuy nhiên, mỗi kinh lại có một sứ mệnh phương tiện giáo hóa đặc biệt cho một đối tượng nào đó và nhắm đến một đối tượng nào đó của giải thoát. Kinh A-di-đà thì nói rõ sứ mệnh của kinh giáo hóa con người từ khi chưa phát tâm, hay mới phát tâm, đến quả vị Bất thối chuyển đổi với Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tại nước Cực Lạc, sau khi vãng sinh về, chúng sinh sẽ tiếp tục nhận sự giáo hóa của Đức Phật A-di-đà cho đến khi đạt nhất thế trí.

Nếu nghiên cứu trên bốn mươi tám lời nguyện của Đức A-di-đà thì chúng ta thấy rõ bốn mươi tám lời nguyện ấy tương phản với cảnh khổ cuộc đời. Nước Cực Lạc là cõi nước thành tựu bốn mươi tám lời nguyện, là thực hiện giấc mơ hạnh phúc và giải thoát cho đời, một giấc mơ cho tập thể nhân loại cần có thời gian lâu dài để thực hiện. Con đường thực hiện xã hội bình đẳng và giải thoát ấy là Giới, Định và Tuệ. Căn bản là công trình kiến tạo xã hội đó là a-di-đà thiện tâm và giải thoát tâm. Từ thiện tâm và giải thoát tâm phát khởi các hành nghiệp thiện và giải thoát; từ thiện nghiệp và giải thoát nghiệp, cảnh giới mơ ước trên được hình thành. Kinh A-di-đà như vậy đã quan tâm đến vấn đề giải thoát của mỗi chúng sinh như giáo lý truyền thống đã nêu ra; vừa rất quan tâm đến mục tiêu và văn hóa loài người hướng đến, mối quan tâm mang đầy tính văn hóa và tính xã hội. Trước mắt, kinh này đã trở nên một nguồn hứng khởi lớn cho các nhà tôn giáo và xã hội đương thời suy ngẫm và hành động Tương lai của cõi Cực Lạc được định đoạt ngay chính tại trần gian này, được xây dựng ngay tại trần gian này.

Kinh A-di-đà nói với chúng ta điều đó, chứ không phải chỉ để cầu nguyện cho người chết được vãng sinh, cũng không cổ động ai từ bỏ cuộc đời này ra đi.

Tụng đọc kinh A-di-đà là để nghe rõ tiếng nói ấy vậy.


Nguồn: Tư Tưởng Kinh A-Di-Đà - H.T. Thích Chân Thiện



Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!


Phật Pháp Tu Học

Email: phatphaptuhoc.vn@gmail.com

Facebook: https://www.facebook.com/phatphaptuhoc.vn/

Website: https://phatphaptuhoc.blogspot.com/

Youtube: https://www.youtube.com/@phatphaptuhoc


Đăng nhận xét

0Nhận xét
Đăng nhận xét (0)
To Top